Điểm bắt đầu của một nguồn thơ (*)

TRẦN HÀ NAM
 

Sau bao lần góp mặt trong hàng chục tuyển tập thơ cuối cùng Đặng Quốc Khánh đã cho ra mắt tập thơ thứ hai của mình. Thời gian từ tập thơ đầu tay Nỗi đau hạnh phúc đến giờ là 33 năm. Tập thơ Lóng ngóng câu thề của Đặng Quốc Khánh (NXB Đà Nẵng 2006) là thành quả chắt chiu của hơn 30 năm làm thơ. Tôi nghĩ đó cũng là cái duyên của một người nặng nợ với thơ đa mang với tình như anh.

Sáu mươi hai bài thơ của ba mươi lăm năm kể ra là khá ít và người tuyển chọn khá kỹ tính. Bởi thế tôi không lạ khi trang bìa của cuốn sách này được trình bày trang nhã và công phu từ chọn màu đến phông chữ cũng là cái trau chuốt dành cho thơ cả mà thôi! 

Lại nghe bảo riêng cái tên sách
Lóng ngóng câu thề cũng được bạn văn tán thưởng không dưới năm lần cụng ly. Tôi không rõ hư thực ra sao nhưng phải nói đến sự trùng hợp (?) khi vị trí bài này ở đúng số 51 - là năm anh bắt đầu tập hợp các bài thơ tâm đắc khi đã đủ thời gian chiêm nghiệm lẽ đời - nói như Chế Lan Viên: Tuổi đời bốn năm mươi/ Mong gì hương sắc lạ... Bởi thế tôi đọc tập thơ này với cái thú vị của người được dõi theo hơn ba mươi năm lận đận với tình của Đặng thi sĩ.

Bắt đầu là bài thơ đã từng xuất hiện trong sổ tay của rất nhiều thế hệ sinh viên khoa Văn sư phạm : 

Rồi bỗng dưng mà cỏ cây xanh mướt
Tháng Sáu trên môi mưa hát rất hiền
Anh ngồi đây với một hồn đã ướt
Con ốc nào trong vỏ nhủ đời riêng

Rồi bỗng dưng em cười che nửa miệng
Vờ giấu anh chiếc răng khểnh dịu dàng
Ai đốt que diêm thắp đời cạn tiếng
Suốt một đời anh vẫn cứ lang thang...
(Hạt buồn rơi) 

Bài thơ này với tôi là một kỷ niệm riêng trong một chiều phát hiện ông anh rể của mình say thơ kỳ lạ đong đưa võng bắt thằng em vợ hì hục chép vào sổ tay hơn chục bài thơ tự sáng tác rồi đọc làu làu cả Tím của Yên Thao Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác... rồi tự dưng một hôm nào đó bài thơ của anh đã được đến với đám bạn bè tôi rồi không những thế bài thơ ấy còn giúp anh có được một cô con dâu răng khểnh dịu dàng khi chàng quý tử lấy thơ của ba làm của riêng đi đọc khắp các câu lạc bộ thơ sinh viên và được các em mê tít! Một kỷ niệm riêng tư nhưng để khẳng định một điều: thơ anh rất có duyên với nữ giới!!! Nên cũng không ít lần lãnh tai bay vạ gió (mà có khi cũng ... chẳng oan tí nào!) từ chị Hai tôi. Bây giờ tình đã qua đi thơ tình ở lại riêng gã tình si tuổi quá năm mươi vẫn lóng - ngóng - câu - thề.
May đời có chị Hai tôi lạt mềm buộc chặt nên con ngựa chứng trong anh đã chịu thuần phải thế chăng nên khi anh viết về vợ chẳng phải quá lời thề thốt. Mà chỉ giản dị:
 

Cảm ơn Em
nhận
hết phần cay đắng
Để riêng Anh
được
cả những ngọt ngào
(Bạn đời) 

Chất thơ Đặng Quốc Khánh có phần còn hiền lành trong câu chữ khi anh mới chỉ là một chàng trai mười tám mang theo bao dự cảm phập phồng khi đứng trước tình yêu trước vẻ kiêu kỳ thiếu nữ:  
Mười sáu tuổi em vầng trăng lụa
Đêm mượt mà hàm tiếu nụ môi thơm
Ta tư lự sớm chiều ghen bóng gió
Vu vơ buồn vô cớ giận mông lung
...
Mười sáu tuổi em kiêu kỳ lộng lẫy
Cứ vô tâm giẫm nát trái tim khờ
Ta mãi sợ nàng Giáng Hương bay mất
Bỏ lại chàng Từ Thức bơ vơ
(Trăng mười sáu 1972) 

Chàng Từ Thức đó không lạc vào cõi tiên mà lại lạc vào cõi tình với tâm thế bơ vơ ngỡ như suốt đời đi tìm một nửa của mình đau đáu. Thế mới hay tình yêu là một kẻ tham lam không bao giờ cảm thấy là đủ dù cho phải kiếm tìm trong mộng ảo trong hư vô trong chiêm bao trong hơn nửa đời người. Tôi nhận ra có một giấc mơ thường trăn trở trong câu thơ của Đặng Quốc Khánh:

Nửa cây cầu chỉ bắc nửa dòng sông
Không có em anh chỉ là một nửa
...
Em tan biến trong vô thường mộng ảo
Nửa dòng sông soi bóng nửa cây cầu
(Đợi chiêm bao- 1979) 

Đến gần hai mươi năm sau giấc mơ trở lại khi anh nhận ra Ta cuối biển tàn cơn say áo mão/ Em Thượng nguồn nhan sắc héo hon: 

Nửa cây cầu soi bóng nửa dòng sông
Phú Phong ơi! rưng rưng mùa hạ cũ...
(Hoài niệm - 1996) 

Với tình yêu có lẽ Đặng Quốc Khánh còn rất nhiều một nửa như thế: Nửa đầu nguồn/ Nửa cuối sông/ Nửa câu chung thủy/ Nửa lòng bạc đen...(Nửa) rồi thì Nửa chút thời gian nửa xác lá nửa trăng thề nửa vần thơ đắng nửa em đăm đắm nửa tôi nồng nàn... Đến khi giật mình nhìn lại thì đã quá nửa đời người. Tôi băn khoăn tự hỏi đàng sau bao cuộc tình ấy có bao giờ anh cảm thấy trọn vẹn chăng? Tôi vốn tin vào những giọt nước mắt tin cả những lời say - như nhà thơ Yến Lan từng nói "Lời say thường rất thật". Nên trân trọng mối tình khiến anh lệ đầm khăn mòn mỏi đợi chiêm bao. Và cả khoảnh khắc sám hối hay day dứt: 

Mái nhà ta là trại tập trung
Hạnh phúc mong manh treo bờ vực
Em riết giữ giam anh trong ngày thực
Anh mê cuồng gian dối những đêm hoang

Mái nhà ta là thiên đường
Lời phúc kinh chứa đầy tội lỗi
Anh và em ai sám hối
Một đời tình mỏng ướt sương bay
(Mái nhà) 

Có lẽ thế một đời tình mỏng là điều anh tự nhận nên duyên trăm năm thành gánh nặng đè lên cả đôi vai người vợ nhận hết phần cay đắng. Còn anh đến rồi đi như bóng khói đi qua cuộc tình để vọng vần thơ đắng lỡ thì trắng tay. Để rồi: 

Câu thề lóng ngóng bên sông
Níu tay anh gởi hư không bóng đời
(Lóng ngóng câu thề) 

Mãnh liệt là thế nồng nàn là thế tình yêu cứ vuột khỏi tầm tay để lại nửa đời thảng thốt thành vần thơ bao đắng chát có khi kiêu bạc: Còn chút phàm danh thì khinh bạc/ Võ vàng son phấn chỉ buồn thêm.

Trong tập thơ này tôi còn nhận ra một chất lục bát rất riêng của Đặng Quốc Khánh trau chuốt trong từng câu chữ ý tứ. Lời dành cho tình yêu nên phải sang trọng phải mượt dịu chăng? Hãy lắng nghe: 

Nghe em hát lý chiều chiều
Lòng anh nắng rớt đìu hiu cuối ngày
Tóc bồng từng sợi lắt lay
Cuộc vui tan để buồn đầy em khuya
(Nghe hát Lý chiều chiều) 

hay: 

Tôi về phía núi sương bay
Vít cong cần rượu đong đầy nhớ nhung
Mắt em ánh lửa bập bùng
Tóc tôi điểm bạc bỗng trùng trùng xanh
(Ký ức An Khê) 

Như thế là tài hoa! Nên ngẫm lại đi liền với đa tình là phải. Cái ngọt ngào lục bát ấy anh thừa hưởng từ quê hương An Nhơn với bao vần điệu làm nên duyên tình "Đập Đá quê cha - Gò Găng quê mẹ". Bởi thế viết về quê hương về đất nước anh cũng hay sử dụng thể thơ dân dã này để chuyển tải những ân tình: 

Tựa lưng vào núi ca dao
Vin tay lên những ngọt ngào ngàn xưa
Bồi hồi tiếng mẹ ru đưa
Lắng trong tình đất hồn dừa bao la...
(Nón trắng sang sông) 

Tôi cảm nhận được phút anh bồi hồi cùng bao hình ảnh âm điệu của quê nội với Sơn Triều/ Ngọn khói lơ phơ với Đêm Xuân/ Náo nức đất Thành/ Trống Tuồng rộn rã/ Long lanh mắt tình. Bởi yêu những nét quê nên mỗi khi đến vùng đất nào những cái khiến anh rung động cũng thật có sức gợi từ những hình ảnh thật giản dị mà thành thi tứ: một cơn mưa Đà Lạt đoá dã quỳ MangYang nghe đờn ca tài tử ở sông Hậu uống cà phê võng ở Bình Phước ... Thậm chí cả một địa danh dân dã cũng thành bài thơ tứ tuyệt: 

Qua cầu Lúc Kúc tìm em
Đất xa trời lạ biết tìm nơi đâu
Người xưa ai đặt tên cầu
Để anh lúc kúc dãi dầu với thơ
(Qua cầu Lúc Kúc) 

"Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương!" Chế Lan Viên từng viết vậy. Nhưng rồi cũng Chế Lan Viên từng ngậm ngùi nhận thấy nỗi biệt ly của khách tha hương khi "Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi/ Bạn bè ngày nhỏ chẳng còn ai/ Thềm nhà nay dựng cơ quan mới/ Chả lẽ thăm quê lại hỏi người?". Có lẽ nhà thơ họ Đặng - quê An Nhơn nhưng long đong phiêu bạt khắp nơi định cư ở Tuy Phước quê vợ cũng cảm thấy dấu hiệu của tuổi tác nên trong tập thơ như một lời tạ từ thời phiêu lãng đã có những bài nói về lẽ tử sinh vô thường nhấp chén trà xuân mà ngẫm nghĩ sự đời chăng? Với anh e rằng còn quá sớm.

Tôi bỗng nghĩ một cách mơ hồ: có khi đây mới là điểm bắt đầu của một nguồn thơ tình mới viết cho người chị nhận hết phần cay đắng của anh tôi viết cho gia đình con cháu quê hương bằng những ân tình đọng lại qua bao trải nghiệm đắng ngọt với Tình Yêu. Hy vọng là thế!

 
T.H.N
................................................
(*) Đọc Lóng ngóng câu thề của Đặng Quốc Khánh