Chợ quê
HUỲNH KIM BỬU
Trai khôn tìm vợ chợ đông...
(Ca dao)
Trong các làng quê, bên cạnh đình - chùa - miếu mạo tôn nghiêm, còn có cái chợ cho người ta bán buôn mặc cả. Những cái chợ đó được gọi một tên chung là chợ quê.
"Chợ thường bên sông / Cho em chở quít chở bòng bán buổi chợ phiên" (Ca dao)
Nhưng mỗi chợ quê còn có cái tên riêng. Cách đặt tên riêng cho chợ, cũng tuỳ hứng, tùy thích lắm. Đa số các tên chợ, lấy tên làng đặt cho luôn (Chợ Háo Lễ của thôn Háo Lễ - xã Phước Hưng, Tuy Phước; chợ Suối Tre ở làng Suối Tre - An Nhơn...). Cũng có chợ gần chùa, sẵn đó gọi chợ Chùa; chợ gần bóng cây cổ thụ, gọi tên chợ theo tên cây (Chợ Cây Cốc ở Phú Phong - Tây Sơn; chợ Bồ Đề - Tuy Phước...) có chợ Dinh (Phường Nhơn Bình - Quy Nhơn) vì gần dinh quan, có chợ Huyện (Tuy Phước) vì đóng trên địa bàn huyện lỵ, có chợ Bò (An Nhơn) vì chợ bán gia súc...Nhưng cũng có chợ chọn tên hay mà đặt, chứ không theo những tiêu chí trên, như Chợ Phú Đa, chợ Cảnh Hàng - An Nhơn...
Chợ thường đặt ở vị trí gò cao mà rộng rãi, trung tâm một làng quê, chỗ trục đường liên hương, bến xe ngựa, bến con sông chảy qua làng. Hồi xưa, đường bộ không tiện lợi bằng đường sông nước, cho nên chợ thường gần bến sông, hễ có cảnh trên bến dưới thuyền, là có chợ: "Anh về Đập Đá (tên chợ) đưa đò / Trước đưa quan khách sau dò ý em" (Ca dao). Gò Bồi sớm trở thành một thị tứ, vì ở đó gần cửa sông cửa biển. Đến khi đã có chợ rồi, chợ tác động trở lại làm cho đường sông nước nhộn nhịp hơn.
"Muốn mua trâu thì đi chợ Bò / Muốn mua chậu, mua vò đi chợ Nam Tân" (Ca dao)
Những vùng quê trù phú, nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ thì tập trung nhiều chợ để người ta mua sắm và nhà sản xuất bán sản phẩm. Chợ Đập Đá là chợ chính của thị trấn Đập Đá, vì đó là vùng phát triển các ngành nghề truyền thống: Cẩn xà cừ (Háo Đức - Nhơn An, Cẩm Tiên - Nhơn Hưng...) bún tươi, gốm (Nhơn Hậu) rèn đúc, nhang (Bằng Châu, Bả Canh - Đập Đá, Thiết Trụ - Nhơn Hậu...). Xung quanh chợ Đập Đá, còn có những chợ "vệ tinh": chợ Kén bán sản phẩm của nghề ươm tơ dệt kén, chợ Gò Găng buôn bán nón lá Gò Găng. Tân Dân, An Cửu, Háo Lễ...thuộc Khu Đông tốt lúa, tốt tre, nổi tiếng "gạo trắng, nước trong", cho nên các chợ Phú Đa (Tân Dân - An Nhơn) Háo Lễ (Phước Hưng - Tuy Phước) bán buôn lúa nếp, cá đồng, cá biển (từ vạn Gò Bồi chở lên) và đủ các mặt hàng đan nan tre. Chợ Cù Lâm "chuyên" bán cày bừa, vì ở đó gần rừng An Tượng, cung cấp nguyên liệu cho nghề đẽo bắp cày, trạnh cày đem ra chợ bán. Vùng Phước Lộc - Chợ Huyện bán nem chả chợ Huyện. Chợ Gò Chim (Cát Tiến - Phù Cát) nổi tiếng thợ bạc khéo tay, ai muốn làm hàng kim hoàn đẹp: cây kiềng vàng thanh, cái mặt cà rá kiểu... thì đến đó.
"Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ"
Xây cất ở các chợ quê, phần nhiều là những lều quán tranh tre nứa lá sơ sài, thường 5 - 7 túp. Một vài vùng quê giàu có, bán buôn phát đạt, người ta đầu tư cho chợ quê vài dãy nhà dựng cột gỗ, hoặc trụ xây gạch, mái lợp ngói, nền lát gạch đất nung. Vì không đủ che nắng đổ mưa tạt, cho nên nhiều chợ phải nấp dưới những tán cây to: "Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ" (Đoàn Văn Cừ). Phần nhiều các chợ có phố, có tiệm, tạo thành phố chợ. Các phố tiệm thường gặp là phố thuốc Bắc, tiệm kim hoàn, tiệm hớt tóc, tiệm bịt trống da trâu, tiệm hàng mã... Chỗ ra vào chợ, có cổng chợ liền sau bến xe ngựa, cổng chợ gần bến sông với bậc cấp lên xuống.
"Chợ quê mỗi tháng 6 phiên"
Người trong các làng quê có gì đem ra chợ bán nấy: Hàng thổ sản, hàng gia cầm gia súc, hàng tiểu thủ, thủ công mỹ nghệ... Cũng có những người hàng xén mua sỉ hàng công nghệ phẩm trên chợ Phủ, chợ Thành, mang về bán lẻ ở các chợ quê. Chợ họp mỗi tháng 6 phiên; vào ngày phiên, chợ họp từ sáng sớm đến trưa tròn bóng mới tan, đông chợ là lúc nửa buổi. Người đi chợ mua sắm cũng là người ở các làng quê, cho nên người mua kẻ bán quen mặt nhau, lấy việc mời gọi, trao đổi hàng hoá là chính, mặc cả chỉ là lấy lệ. Phụ nữ hồi xưa phải trau dồi công ngôn dung hạnh. Cái công ngôn dung hạnh được bộc lộ rất rõ ở ngoài chợ: Cô bán hàng duyên dáng, ăn nói dịu dàng, chào mời lễ phép thì bán chạy hàng; cô mua hàng có kinh nghiệm thì dễ dàng mua được món hàng "tiền nào của nấy", món hàng ngon. Cái dở của phụ nữ cũng thường bộc lộ ngoài chợ: mua phải mớ cá ương, miếng thịt hôi...Có bao nàng dâu bị mẹ chồng "nói hành" bằng câu: "Dày môi ăn hàng" (Tục ngữ) . Dân gian còn có câu: "Trai khôn tìm vợ chợ đông" để vừa dạy con gái phải trau dồi nết na, tập làm ăn; vừa chỉ cho con trai "địa chỉ" để kén vợ đảm đang... Cũng có chợ nhóm lại buổi chiều, nhưng không đông: "Chợ chiều nhiếu khế ế chanh" (Ca dao), thường là để bán hàng tươi sống như tôm cá vừa mới đánh bắt được hoặc con thú rừng vừa mới sa bẩy... Có chợ đặc biệt, Chợ Gò (Tuy Phước) nhóm mỗi năm một phiên duy nhất vào sáng mồng một Tết, cho người ta vừa có một hội Xuân vừa đi mua lộc Bà, cầu may cho cả năm. Mỗi năm có phiên chợ Tết một lần. Phiên chợ Tết thì đông vui, vì không thiếu thứ gì và nhà nhà đi mua sắm.
Trong chợ có người gánh nước, gánh hàng mướn, quét chợ, đổi nước chè xanh... Đó là những người bị xã hội cũ xem thường. Lâu lâu, đoàn Sơn Đông mãi võ từ đâu kéo vô chợ, đánh trống lùng... tùng, đánh thanh la phèng...phèng làm xiếc cho bà con coi và bán thuốc chữa bệnh cam tích, (bệnh bụng ỏng da chì trẻ con), thuốc rỏi nhuộm hàm răng đen phụ nữ, nhổ răng sâu bằng cái kềm nhổ đinh 3 phân...
Hồi nhỏ, tôi vẫn thích được mẹ dẫn đi các chợ quê để cúp tóc, may đo quần áo cho ngày Tết, ngày tựu trường năm học mới, mua quả thị chín vàng, ăn kẹo kéo bỏ đồng xu quay số... Tôi thích nhất, được mỗi năm một lần, theo ba đi chợ Tết quê để xem gian hàng ông thầy đồ gò lưng viết bức, tranh Đông Hồ vẽ gà lợn treo trên các cột lều chợ...
H.K.B